-- Chọn Huyệt --
Huyệt Số 0
Huyệt Số 1
Huyệt Số 3
Huyệt Số 4
Huyệt Số 5
Huyệt Số 6
Huyệt Số 7
Huyệt Số 8
Huyệt Số 9
Huyệt Số 10
Huyệt Số 11
Huyệt Số 12
Huyệt Số 13
Huyệt Số 14
Huyệt Số 15
Huyệt Số 16
Huyệt Số 17
Huyệt Số 18
Huyệt Số 19
Huyệt Số 20
Huyệt Số 21
Huyệt Số 22
Huyệt Số 23
Huyệt Số 24
Huyệt Số 26
Huyệt Số 27
Huyệt Số 28
Huyệt Số 29
Huyệt Số 30
Huyệt Số 31
Huyệt Số 32
Huyệt Số 33
Huyệt Số 34
Huyệt Số 35
Huyệt Số 36
Huyệt Số 37
Huyệt Số 38
Huyệt Số 39
Huyệt Số 40
Huyệt Số 41
Huyệt Số 43
Huyệt Số 45
Huyệt Số 46
Huyệt Số 47
Huyệt Số 48
Huyệt Số 49
Huyệt Số 50
Huyệt Số 51
Huyệt Số 52
Huyệt Số 53
Huyệt Số 54
Huyệt Số 55
Huyệt Số 56
Huyệt Số 57
Huyệt Số 58
Huyệt Số 59
Huyệt Số 60
Huyệt Số 61
Huyệt Số 62
Huyệt Số 63
Huyệt Số 64
Huyệt Số 65
Huyệt Số 68
Huyệt Số 69
Huyệt Số 70
Huyệt Số 71
Huyệt Số 72
Huyệt Số 73
Huyệt Số 74
Huyệt Số 75
Huyệt Số 79
Huyệt Số 80
Huyệt Số 85
Huyệt Số 87
Huyệt Số 88
Huyệt Số 89
Huyệt Số 91
Huyệt Số 94
Huyệt Số 95
Huyệt Số 96
Huyệt Số 97
Huyệt Số 98
Huyệt Số 99
Huyệt Số 100
Huyệt Số 101
Huyệt Số 102
Huyệt Số 103
Huyệt Số 104
Huyệt Số 105
Huyệt Số 106
Huyệt Số 107
Huyệt Số 108
Huyệt Số 109
Huyệt Số 113
Huyệt Số 120
Huyệt Số 121
Huyệt Số 123
Huyệt Số 124
Huyệt Số 125
Huyệt Số 126
Huyệt Số 127
Huyệt Số 128
Huyệt Số 129
Huyệt Số 130
Huyệt Số 131
Huyệt Số 132
Huyệt Số 138
Huyệt Số 139
Huyệt Số 143
Huyệt Số 145
Huyệt Số 156
Huyệt Số 157
Huyệt Số 159
Huyệt Số 162
Huyệt Số 163
Huyệt Số 170
Huyệt Số 171
Huyệt Số 173
Huyệt Số 174
Huyệt Số 175
Huyệt Số 177
Huyệt Số 178
Huyệt Số 179
Huyệt Số 180
Huyệt Số 183
Huyệt Số 184
Huyệt Số 185
Huyệt Số 188
Huyệt Số 189
Huyệt Số 191
Huyệt Số 195
Huyệt Số 196
Huyệt Số 197
Huyệt Số 199
Huyệt Số 200
Huyệt Số 201
Huyệt Số 202
Huyệt Số 203
Huyệt Số 204
Huyệt Số 209
Huyệt Số 210
Huyệt Số 215
Huyệt Số 216
Huyệt Số 217
Huyệt Số 218
Huyệt Số 219
Huyệt Số 220
Huyệt Số 222
Huyệt Số 226
Huyệt Số 227
Huyệt Số 228
Huyệt Số 229
Huyệt Số 233
Huyệt Số 235
Huyệt Số 236
Huyệt Số 240
Huyệt Số 243
Huyệt Số 245
Huyệt Số 247
Huyệt Số 253
Huyệt Số 254
Huyệt Số 255
Huyệt Số 256
Huyệt Số 257
Huyệt Số 265
Huyệt Số 267
Huyệt Số 268
Huyệt Số 269
Huyệt Số 270
Huyệt Số 274
Huyệt Số 275
Huyệt Số 276
Huyệt Số 277
Huyệt Số 278
Huyệt Số 279
Huyệt Số 280
Huyệt Số 281
Huyệt Số 282
Huyệt Số 284
Huyệt Số 285
Huyệt Số 286
Huyệt Số 287
Huyệt Số 288
Huyệt Số 290
Huyệt Số 292
Huyệt Số 293
Huyệt Số 297
Huyệt Số 300
Huyệt Số 301
Huyệt Số 302
Huyệt Số 303
Huyệt Số 305
Huyệt Số 308
Huyệt Số 310
Huyệt Số 312
Huyệt Số 319
Huyệt Số 324
Huyệt Số 329
Huyệt Số 330
Huyệt Số 332
Huyệt Số 333
Huyệt Số 338
Huyệt Số 340
Huyệt Số 341
Huyệt Số 342
Huyệt Số 343
Huyệt Số 344
Huyệt Số 345
Huyệt Số 346
Huyệt Số 347
Huyệt Số 348
Huyệt Số 353
Huyệt Số 354
Huyệt Số 355
Huyệt Số 356
Huyệt Số 357
Huyệt Số 358
Huyệt Số 360
Huyệt Số 364
Huyệt Số 365
Huyệt Số 370
Huyệt Số 377
Huyệt Số 379
Huyệt Số 399
Huyệt Số 401
Huyệt Số 405
Huyệt Số 421
Huyệt Số 422
Huyệt Số 423
Huyệt Số 428
Huyệt Số 432
Huyệt Số 437
Huyệt Số 458
Huyệt Số 459
Huyệt Số 460
Huyệt Số 461
Huyệt Số 467
Huyệt Số 477
Huyệt Số 481
Huyệt Số 491
Huyệt Số 505
Huyệt Số 511
Huyệt Số 521
Huyệt Số 555
Huyệt Số 556
Huyệt Số 557
Huyệt Số 558
Huyệt Số 559
Huyệt Số 560
Huyệt Số 561
Huyệt Số 564
Huyệt Số 565
Huyệt Số 567
Huyệt Số 630
-- Chọn bộ huyệt --
Bộ Thăng
Bộ Giáng
Bộ Bổ Ấm Huyết
Bộ Trừ Đàm Thấp Thủy, Trị Thấp Khớp, Ho Đàm, Béo Phì
Bộ Điều Hòa
Bộ Tan Máu Bầm
Tăng Tiết Dịch
Giảm Tiết Dịch
Tăng Huyết Áp
Hạ Huyết Áp
Cấp Cứu Ngất Xỉu, Trúng Gió
Tiêu Viêm Tiêu Độc
Tiêu Đờm, Long Đờm
Tiêu Bướu Tiêu Khối U
Tiêu Mỡ
Tiêu Hơi Thông Khí
Thải Độc
Tức Ngực Khó Thở
Cầm Mồ Hôi Tiết Dịch
Cầm Tiểu
Lợi Tiểu
Tê, Mất Cảm Giác
Mề Đay
Mất Ngủ
Suy Nhược Thần Kinh
Suy Nhược Cơ Thể
Trị Đau
Trị Nhức
Chống (Điều Chỉnh) Co Cơ
Đau Nhức Cơ Bắp
Viêm Cơ Khớp
Làm Mát (Hạ Nhiệt)
Viêm Xoang, Thiểu Năng Tuần Hoàn Não
Phác Đồ 12 Dây Thần Kinh
Tăng Cường Tính Miễn Nhiễm
Tăng Sức Đề Kháng
Làm Ấm (Nóng)
Nhức Răng
Chống Co Giật
Trị Ngứa
Phác Đồ Tạng Phủ Bệnh Do Nhiều Tạng Gây Ra
Phác Đồ Nội Tiết Tố, Trị Tiểu Đường, Biếu Cổ
Phác Đồ Tứ Đại Huyệt (Ngứa, Nổi Mề Đay, Di Ứng Mệt Mỏi)
Chóng Mặt
Bồi Bổ & Thông Khí Huyết
Hay Quên, Kém Trí
Phác Đồ 6 Vùng Phản Chiếu
Cầm Máu
Chống Nghẽn, Nghẹt
Làm Nhuận Trường
Chống Run Rẩy
Yêu Sinh Lý
Bộ Ổn Định Thần Kinh
-- Chọn bộ vị --
Đỉnh Đầu
Nửa Bên Đầu
Sau Đầu Gáy
Trán
Toàn Đầu
Tai
Gờ Mày
Mắt
Mũi
Môi - Miệng
Cổ
Họng
Lưỡi
Răng
Mặt
Bả Vai
Khớp Vai
Cánh Tay Trên
Khuỷu Tay
Cổ Tay
Bàn Tay
Các Khớp Ngón Tay
Ngón Tay Cái
Ngón Tay Trỏ
Ngón Tay Giữa
Ngón Tay Áp Út
Ngón Tay Út
Mông
Háng
Đùi
Khuỷu-Nhượng
Đầu Gối
Cẳng Chân
Cổ Chân
Bàn Chân
Gót Chân
Ngón Chân Cái
Ngón Chân Trỏ
Ngón Chân Giữa
Ngón Chân Áp Út
Ngón Chân Út
Ngực
Cột Sống Lưng
Thắt Lưng
Giữa 2 Bả Vai
Quanh Rốn (Bụng)
Trên Rốn
Dưới Rốn
DA – NIÊM MẠC
NÃO – THẦN KINH
Vùng Dưới Đồi
Hành Não
Rãnh Rolando
Tuyến Tùng
Tuyến Yên
Tuyến Giáp
Tuyến Cận Giáp
Tuyến Ức
Tuyến Thượng Thận
Dương Vật
Dịch Hoàn
Tuyến Tiền Liệt
Âm Hộ-Âm Đạo
Tử Cung
Buồng Trứng
Hậu Môn
Tim (Tâm-Tâm Bào)
Ruột Non (Tiểu Trường)
Gan (Can)
Mật (Đởm)
Lá Lách (Tỳ)
Lá Mía (Tụy-Pancreas)
Phổi (Phế)
Ruột Già (Đại Trường)
Thận
Bọng Đái (Bàng Quang)
Dạ Dày - Bao Tử (Vị)
-- Chọn --
Đau
Nhức
Tức Tối
Ngứa
Rát-Xót
Nhột
Chóng Mặt
Nghẹn-Nghẹt
Co Giật
Run Rẩy
Lờ Đờ-Mệt Mỏi
Nóng
Lạnh
Tê, Mất Cảm Giác
TÀI LIỆU, TẠP CHÍ DIỆN CHẨN

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA DIỆN CHẨN – ĐIỀU KHIỂN LIỆU PHÁP

co-so-khoa-hoc-cua-dien-chan

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA DIỆN CHẨN – ĐIỀU KHIỂN LIỆU PHÁP (DC – ĐKLP)
Bài giảng Diện chẩn Điều khiển Liệu pháp – GS.TSKH Bùi Quốc Châu

I. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Cho đến nay, không ít người đã gặt hái hoặc chứng kiến những kết quả gần như kỳ diệu của “Diện chẩn Điều khiển Liệu pháp” trong một số trường hợp chẩn đoán và điều trị.
Trước những kết quả đó, nhiều người không khỏi thắc mắc: “Tại sao tác động trên mặt mà lại hết bệnh dưới chân? Tại sao lại có kết quả quá nhanh chóng hầu như khó tin nếu không chứng kiến tận mắt? Tại sao nhìn mặt mà biết trong thận có sạn..”
Cơ sở khoa học của Diện Chẩn
Diện Chẩn – Điều khiển liệu pháp
Để giải đáp phần nào những thắc mắc đó, chúng tôi sẽ trình bày những luận thuyết mới trên Thế giới trong lĩnh vực CHÂM CỨU, từ đó, chúng ta sẽ hiểu được phần nào kết quả mà Diện Chẩn – Điều khiển liệu pháp đã làm được.

Tuy nhiên đây chỉ là một phần của vấn đề. Ngoài ra bạn đọc còn phải tham khảo những giả thiết mà chúng tôi đã trình bày trong sách “Diện Chẩn – Điều khiển liệu pháp” để tạm thời giải thích những bí mật của cơ thể chúng ta, đặc biệt trong lĩnh vực “Diện Chẩn – Điều khiển liệu pháp”. Mong các bạn đọc hiểu trên tinh thần đó vì cho đến nay chưa ai có thể tự hào là nắm rõ được cơ sở khoa học, cơ chế của CHÂM CỨU là gì? Trong khi “Diện Chẩn – Điều khiển liệu pháp” của chúng ta là một vấn đề còn mới mẽ, tuy rằng, thoạt nhìn qua nó giống như CHÂM CỨU. Thật ra, phương pháp của chúng ta không phải là môn CHÂM CỨU mà là một bộ môn khác mang nhiều màu sắc mới lạ. Thời kỳ đầu phạm vi tác động chỉ thể hiện trên vùng MẶT gồm Đồ hình , tuy nhiên kể từ năm 1988, DIỆN CHẨN đã phát triển lên Da đầu và từ năm 1989 đã triển khai ra toàn thân (cũng gồm nhiều ĐỒ HÌNH PHẢN CHIẾU) làm cơ sở cho việc chẩn đoán và điều trị

II. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA DIỆN CHẨN:

Nếu coi DIỆN CHẨN chỉ là NHÌN MẶT ĐOÁN BỆNH thì đây không phải là một vấn đề mới vì từ xưa trong Kinh điển Đông Y đã có VỌNG CHẨN (chẩn đoán bệnh bằng cách nhìn). DIỆN CHẨN của chúng ta mặc dù cũng dựa trên nguyên tắc biểu hiện những hình thức khảo sát căn cứ vào nhiều yếu tố, đặc biệt trong đó có các dấu vết xuất hiện trên da, dưới da. Trong phần dưới đây, chúng tôi sẽ giới thiệu những vấn đề có liên quan đến việc SỜ, ẤN các điểm đau trên bề mặt cơ thể và nhìn các dấu vết trên da để đoán bệnh của Đông Y, Tây Y và cơ sở khoa học cảu vấn đề này xuyên qua các công trình nghiên cứu của các tác giả Nhật Bản. Thông qua các tư liệu này, bạn đọc sẽ hiểu được DIỆN CHẨN một cách khoa học hơn.

1. Theo”Y học hiện đại” và “Y học cổ truyền”:

Tây Y có môn DEMATOLOGY (Khao bệnh da) là phương pháp nhìn vào các dấu vết và màu sắc riêng biết hiện ra trên da mà biết bệnh, không chủ yếu dựa trên phạm vi vùng mặt mà là trên toàn cơ thể. Phương pháp này có cơ sở khoa học, giải thích được vì sao mắc bệnh giang mai lại hiện ra những nét đặc biệt trên mình và bộ phận sinh dục, hoặc bệnh cùi thì có những biểu hiện ta ở vành tai, dái tai, ngón tay.
Sỡ dĩ người ta có thể biết được bệnh qua các biểu hiện trên da là vì Y học hiện đại nghiên cứu thấy rằng : Trong phôi thai Da và nội tạng là một .Do đó, lúc phát triển thành con người thì lẽ tất nhiên khi Nội tạng có bệnh thì ngoài da sẽ hiện ra các dấu vết khác thường tương ứng với bệnh của nội tạng. Vì vậy chỉ cần vào biểu hiện ngoài da, người Thầy thuốc chuyên khoa sẽ biết bệnh nhân đang bị bệnh gi?

Bệnh tật của một hệ thống ở sâu thường thể hiện ra những vùng tương ứng trên bề mặt cơ thể một cảm giác đau tức, mỏi tự phát. Đó là cảm giác đã được cả Y học phương Tây lẫn Y học cổ truyền phương Đông quan sát mô tả, nhưng Y học hiện đại thì tổng kết những vùng đau tự phát ấy thành những vùng gọi là Zakharine- Head và tìm ra cơ chế của nó là một cung phản xạ cảm giác- nội tạng da. Do cùng một TIẾT ĐOẠN thần kinh chi phối còn Y học cổ truyền phương Đông sử dụng những vùng đau tê mỏi là một trong những phương tiện để tìm ra cấu tạo của hệ thống Kinh lạc.

Những vùng đau tự phát hoặc ấn vào mới thấy đau như thế là nội dung của việc chẩn đoán dựa trên cơ sở Kinh lạc cũng là một phương pháp của châm cứu (Huyệt A thị). Do đó, để phát huy tốt tác dụng của CHÂM CỨU, các nhà châm cứu cần vận dụng tốt các vùng đau vào chẩn đoán và điều trị.
Dựa trên quan sát các điểm đau và một số biểu hiện ở loa tai mỗi khi gặp một bộ phận nào đó của cơ thể bị bệnh có một số vòng tương ứng trên loa tai thường có biểu hiện đau hoặc một số biểu hiện đặc biệt khác. Dựa trên kết quả quan sát được, kết hợp với tư duy khái quát hóa, tác giả Nogier (người Pháp) đã vẽ được bản đồ các vùng của cơ thể. Nó giống như một bào thai nằm lộn ngược ở loa tai. Dựa trên cơ sở đó, tác giả đã xây dựng thánh công phương pháp châm ở loa tai và sử dụng loa tai vào chẩn đóan.
Việc quan sát những vùng nhìn thấy có sự thay đổi khác biệt : sờ thấy nóng lạnh bất thường hoặc ấn thấy kết thành đám cứng nhắc hay mềm nhão cũng là phương tiện để nền y học cổ truyền phương Đông tìm ra cấu tạo của hệ thống Kinh lạc và xây dựng học thuết Kinh lạc (Viện Đông Y CHÂM CỨU HỌC II).

Cơ sở vật lý-sinh vật của sự biến đổi điện trở vùng da cùng huyệt: Các tác giả Nhật Bản TACHINO và ISHIKAWA đã quan sát và giải thích hiện tượng biến đổi điện trở của Da vùng Huyệt trong trường hợp bệnh lý như sau:
– Khi nội tạng có bệnh, những kích thích bất thường từ nội tạng đi vào tủy sống, rồi phản chiếu ra vùng da cùng tiết đoạn. Ngoài những phản xạ phức tạp (cảm giác mạnh, gân cơ co rút, bài tiết thất thường, chuyển hóa, trở ngại….)Nó còn gây ra những phản ứng của động mạch nhỏ ở hạ bì, những động mạch nhỏ co lại, máu chảy không đều, da ở vùng động mạch chi phối xuất hiện tượng giống như thiếu máu, gây nên sự tiết dịch thành những điểm tròn rõ rệt, đường kính không quá -1mm.
– Hiện tượng trên gọi là “Điểm phản xạ Da”. Đại bộ phận các “Điểm phản xạ Da” chỉ thấy được qua kính hiển vi, đôi khi nhìn thấy bằng mắt thường dưới dạng BAN NHỎ.
– Những biến đổi về tổ chức học trên kéo theo những biến đổi về diện Sinh học. Biểu hiện bằng sự giảm điện trở và tăng điện dung. Sự biến đổi này phụ thuộc vào mức độ thấm xuất của các động mạch nhỏ dưới Da (Viện Đông Y – CHÂM CỨU HỌC II)

2. Theo “DIỆN CHẨN”

Qua những luận thuyết trên, ta sẽ hiểu được cách chẩn đoán bằng DIỆN CHẨN LÀ CÓ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA NÓ.Tuy nhiên cũng giống như Nhĩ Chẩn, DIỆN CHẨN có điểm khác và độc đáo là căn cứ vào Đồ hình là những VÙNG PHẢN CHIẾU (còn gọi là HÌNH CHIẾU) của cơ thể lên trên mặt được hệ thống hóa, ta có thể chẩn đoán được bệnh mốt cách nhanh chóng và chính xác, tiện lợi hơn thay vì phải khám cục bộ nơi đau như Thể châm. Các dấu hiệu chẩn đoán cũng phong phú, đa dạng hơn như không chỉ có cảm giác không đau ở tại 1 điểm (Bất thống điểm) hoặc không chỉ lưu tâm đến Nốt ban mà còn để ý đến mụn ruồi, vết sẹo, nếp nhăn, lỗ chân lông nở to, tai máu,….làm tiêu chuẩn định bệnh.
Tuy nhiên cùng cùng một nguyên tắc như ở các phương pháp vừa trình bay ở trên, tất cả cùng có ý nghĩa trong chẩn đoán.

III. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA “DIỆN CHẨN LIỆU PHÁP”:

Cho đến nay, có lẽ không ít người còn thắc mắc không rõ tại sao tác động trên MẶT mà lại trị được bệnh bên dưới một cách hiệu quả. Phần trình bày sau đây sẽ cho thấy những liên hệ giữa ĐẦU, MẶT và CƠ THỂ. Và qua đó, bạn đọc sẽ tự giải đáp được phần nào thắc mắc nêu trên.

1. Theo Tây Y: Cơ thể học Tây Y cho biết có nhiều dây thần kinh đến Mặt trong đó có hai dây số 5 và số 7 phân bổ đều vùng mặt.

a) Dây số 5: (Thần kinh sinh ba: Nerf trijumeau) chỉ huy cảm giác ở mặt phát ở hai bên đầu não có 3 nhánh: 2 nhánh đầu là nhánh cảm giác, nhánh thứ 3 là nhánh hỗn hợp bởi vì trong nhánh có những sợi vận động đến các cơ nhai. Nhanh cảm giác th1ư nhất phân bố vào vùng da trên trán và ở mắt. Nhanh thứ 2 phân bố vào hàmtrên và Da mặt ở ngang mức hàm trên. Nhanh thứ 3 phân bố hàm dưới.
b) Dây số 7: (thần kinh mạch” Nerf facial) xúât phát ở hành não, đi vòa ống tai trong của xương thái dương và đi ra khỏi xương thái dương bởi một lỗ trâm chũm đến các cơ ở vùng Mặt. Ngoài các thầnh phần dây thền kinh. Mặt khác nó còn có những sợi thần kinh Mặt còn có những sợi thần kinh phó giao cảm đi đến tuyến lệ, tuyến nước bọt dưới hàm và dưới lưỡi.

2. Theo Đông Y : Mặt là nơi hội tụ và xuất phát các kinh mạch.

a/ Kinh: Mặt là nơi tận cùng và cũng là nơi khởi phát của các kinh dương như:
+ Thủ dương minh Đại Trường: Từ góc móng tay trỏ (huyệt Thương dương) theo mặt ngoài cánh tay đi ngược lên đến vai rồi theo cạnh cổ đi lên mắt, chấm dứt ở huyệt Nghinh hương (cạnh cánh mũi).
+ Túc dương minh Vị kinh: Khởi từ huyệt Nghinh hương chạy lên huyệt Tinh minh (cạnh đầu mắt) rồi xuống huyệt Thứa khấp(dưới mắt), từ đâu đổ xuống theo hai bên ngực bụng, xuống mặt trước chân rồi chấm dứt ở huyệt Lê đoài(sát móng chân trỏ)
+ Thủ thái dương Tiểu trường: Từ huyệt Thiếu trạch ở phía ngoài móng tay út, chạy ngược lên mặt ngoài phía cánh tay đi lên mặt rồi chấm dứt ở huyệt Thính cung (cạnh lỗ tai)
+ Túc thái dương bàng quang kinh: Bắt đầu từ huyệt Tinh minh ở đầu mắt, chạy lên đầu qua gáy, xuống hai bên lưng, vào mặt sau chân, tận cùng ở huyệt Chí âm (góc ngoài ngón chân ngón út)
+ Thủ thái dương Tam tiêu kinh: Khởi từ huyệt Quan xung (cạnh móng tay của ngón áp út) đi ngược lên mặt ngoài cánh tay qua cổ chạy phía sau tai ra tai trước đến huyệt Tỵ trúc không cạnh đuôi mắt.
+ Túc thiếu dương Đởm kinh: Từ đuôi mắt (Huyệt đồng tử tiêu) qua Thái dương ra sau tai vòng lên đầu, xúông vai, chạy dọc hông sườn xuống mặt ngoài chân, chấm dứt ở góc ngoài móng chân ngón áp út(huyệt Khiếu âm).

b/ Mạch: Mặt còn là nơi hội tụ của các Mạch như:
+ Nhâm mạch: Từ hội âm qua giữa bụng, ngực, lên mặt đến dưới mắt.
+ Đốc mạch: Từ tầng sinh môn, đi dọc cột sống, lến gáy, xuống sống mũi, chổ giáp nướu và môi trên.
+ Xung mạch: Khởi đầ từ trong hố chậu, chạy xuống và nhô ra tại Hội âm. Đi lên bên trong dọc cột sống, nhánh xuống chẻ ra làm hai và hợp với Thận kinh, chạy dài hai bên bụng lên đến họng và vòng quanh môi.
+ Dương kiểu mạch: Từ mắt cá ngoài chạy theo mặt ngoài chân lên hông sườn vòng qua vai lên cổ qua má rồi vào đầu mắt, hợp với mạch Âm kiểu đến sau tài vào não.
+ Âm kiểu mạch: Từ mắt cá trong theo mặt trong chân lên bụng(qua bộ phận sinh dục ngoài) lên ngực, qua họng lên đầu mắt, hợp với mạch Dương kiểu đến sau tai và não.
+ Dương duy mạch: Từ huyệt Kim môn ở canh bàn chân chạy theo mặt ngoài của chân lên hông sườn qua vai lên mặt ra trán vòng ra sau tai đến gáy hợp với Mạch đốc.

c/ Kinh nhánh: Ngoài ra các nhánh lớn của các Kinh (gọi là kinh nhánh) cũng lên Mặt như:
+ Kinh nhánh của Thủ thiếu âm tâm kinh: Từ nách lên thanh quản, họng, lên mặt ở đầu mắt.
+ Kinh nhánh của Thủ quyết âm tầm bào kinh: Từ hốc nách lên dọc Uyên Dịch (dưới nách 3 thốn) lên thanh quản, họng.
+ Kinh nhánh của Thủ thái âm phế kinh: Từ nách lên dọc thanh quản.

d/ Các kinh cân: Cũng có một số lên MẶT như:
+ Túc thái dương cân kinh: Từ chân lên gò má, cánh mũi.
+ Túc thiếu dương cân kinh: Từ chân lên mặt ở xương má cánh mũi và đuôi mắt.
+ Túc dương minh cân kinh: Theo lộ trình Kinh tiểu trường lên mắt, trước tai, kết ở hàm rồi lên nối ở đuôi mắt.
+ Thủ thiếu dương cân kinh: Theo lộ trình Kinh tam tiêu lên trên mặt trước tai nối với đuôi mắt kết ở góc trán.
+ Thủ dương mình cân kinh: Theo lộ trình Kinh đại trường lên đầu và vòng sang hàm bên kia ( VIỆN ĐÔNG Y – CHÂM CỨU HỌC I)
Xuyên qua phần trình bày trên , ta thấy giữa MẶT và CƠ THỂ bên dưới có quan hệ rất chặt chẽ. Có thể nói mọi cơ quan, bộ phận bên dưới và bên trong cơ thể đều có thể thông tin lên mặt và được điều khiển từ bộ mặt và đầu não.

Tuy nhiên, bao nhiêu đó cũng chưa đủ, thật ra vai trò của bộ mặt còn quan trọng hơn nhiều đối với vấn đề tâm lý, sinh lý, và bệnh lý của con người, nếu ta biết rằng qua Thuyết phản chiếu , thuyết đối xứng, thuyết đồng bộ, thuyết đồng ứng, hầu hết các cơ quan đầu não như: hệ thần kinh trung ương, hành tủy, cầu não, não giữa, tiểu não, não trung gian và bán cầu não và một phần của hệ thần kinh ngoại vi đều phản chiếu lên mặt. Ngoài ra còn kể các hệ phản chiếu khác của hệ pảhn chiếu kinh huyệt của Thể ch6m, hệ pảhn chiếu Nội tạng, ngoại vi, vỏ não,….(xem phần: Các hệ phản chiếu trong sách “Diện Chẩn – Điều khiển liệu pháp).
Như thế, ta càng thấy rõ “Bộ mặt” thật là quan trọng vì thông qua các hệ phản chiếu, ta thấy rõ ràng nó có liên hệ với toàn bộ đời sống tinh thần và sinh lý con người.
Điều này càng được xác minh rõ ràng trong thực tế vì như ta đã biết xoa mặt bằng khăn mặt nhúng nước ấm hàng ngày, ta thấy sức khỏe được cải thiện rõ rêt. Và khi tác động vào các vùng và huyệt trên mặt, ta thấy có thể giải quyết được nhiều bệnh chúng một cách hữu hiệu và nhanh chóng.

KẾT LUẬN: Qua phần trình bày trên ta thấy rõ ràng: Bộ mặt không phải chỉ là Bộ mặt mà còn là toàn thân, là cả con người vớ đầy đủ ý nghĩa về thể xác lẫn tinh thần. Do đó ta cần cố gắng siêng năng bảo vệ và chăm sóc bộ mặt của mình hàng ngày. Đó là điều kiện để có một sức khỏe tốt và một tinh thần sảng khoái.

GSTSKH. Bùi Quốc Châu

5/5 - (12 bình chọn)